Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

Đi tìm nét đẹp văn hóa ứng xử

Đi tìm nét đẹp văn hóa ứng xử

văn hóa ứng xử
Lý Lam
Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần số Xuân 2013
09:58' PM - Thứ tư, 30/10/2013
“Ngày xuân sang ta chúc nhau…”, “Con chúc ông bà sống lâu thật lâu…” – Lời ca rộn ràng nhân dịp xuân về cho thấy những câu chúc của chúng ta dành cho ông bà, bố mẹ, người thân, bạn bè, láng giềng… là một điều rất đỗi tự nhiên, quen thuộc. Đặc biệt trong dịp xuân về, khi mà Dù đi đâu ai cũng nhớ / Về chung vui bên gia đình, dường như ai cũng sống nhân ái hơn, mở lòng hơn với mọi người…
Ngẫm lại, chợt nhận ra những giá trị tốt đẹp ấy dường như đang phai mờ dần trong cuộc sống hiện đại, chỉ còn trong ngày tết ở làng quê.
Không những vậy, một số lễ nghi còn bị chuyển thành những phương thức để cầu lợi, như cầu lộc cầu tài, cầu thăng quan tiến chức, trong khi một số thói quen, tập quán tốt đã bị mai một, như thói quen xếp hàng, cảm ơn – xin lỗi, sống có trách nhiệm với bản thân,…
Do cuộc sống hiện đại bận rộn, hay do nguyên nhân nào khác mà chúng ta đang mất dần những nét đẹp văn hóa ứng xử ấy và đâu là hệ quả của vấn đề này? Tọa đàm đặc biệt nhân dịp Xuân Quý Tỵ của DNSGCT với sáu vị khách mời – thân hữu, vì vậy, trở thành một cuộc “Đi tìm nét đẹp văn hóa ứng xử” của người Việt…
Trong số khách mời, chỉ có nhà triết học, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn lần đầu tham dự một cuộc tọa đàm của DNSGCT, còn chuyên gia ẩm thực Hồ Thị Hoàng Anh, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, luật sư Nguyễn Ngọc Bích, giáo sư Huỳnh Như Phương và doanh nhân Lương Văn Lý là “khách quen”, nên sau cái bắt tay chào hỏi, lễ nghi “ưu tiên phụ nữ”, “nhường bậc trưởng bối”,… là những suy tư, trăn trở cùng một đề tài không hề đơn giản.
Như ông Huỳnh Như Phương nói một cách ý nhị, khi DNSGCT đặt ra “chuyện văn hóa ứng xử” thì đã ngầm ý rằng mối quan hệứng xử giữa người và người trong xã hội đang có vấn đề.
Sự xung đột giữa các luồng tư tưởng. Hai cách hành xử chủ đạo “Văn hóa ứng xử là cách thể hiện ra bên ngoài của những thái độ – yêu, thích, ghét, trọng, khinh…, và người ta có thể học hỏi, chia sẻ những điều này với nhau”, ông Nam Sơn lên tiếng.
Ông Nguyễn Ngọc Bích: “Mỗi người cố gắng khơi cái tốt lên thì xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn”
“Nền tảng của những thái độ đó chính là những giá trị và chúng ta đang bị khủng hoảng về giá trị thực sự, trước hết là sự xung đột giữa những giá trị cổ truyền với vai trò quan trọng của Nho giáo, với xã hội xã hội chủ nghĩa và một xã hội hội nhập hiện nay.
Với xã hội cổ truyền, dường như có một sự đứt gãy, trong khi con người mới xã hội chủ nghĩa một thời được đề cao đã không còn phù hợp, còn những giá trị hiện đại của phương Tây thì không được khuyến khích.
Nếu không chọn được những giá trị nền tảng, mà để cho những giá trị hoang dã là quyền lực, tiền bạc, hưởng thụ và danh vọng ảo thống trị thì dần dần chúng sẽ phá đi những nền tảng văn hóa tốt đẹp của xã hội”.
Bà Hoàng Anh chia sẻ với nhận định này, khi cho rằng mình là một “người trong cuộc”: “Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế nên được hấp thụ một nền giáo dục chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo. Thời xưa, phụ nữ không được dạy nhiều về lễ nghi giao tiếp, ứng xử với bên ngoài; khách của chồng đến nhà, người vợ ra cúi chào rồi đi vào trong, chứ không được ngồi cùng.
Sống trong một xã hội như vậy, lại học trong một trường dành cho nữ nên tôi được hưởng một nền giáo dục khuôn phép, với những tư tưởng Nho giáo, “gọi dạ bảo vâng”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”…
Nhưng khi tôi lớn lên thì đất nước giải phóng, từ đó đến nay, bị tác động bởi nhiều luồng tư tưởng xung đột lẫn nhau, cũ – mới đan xen, nên nhiều lúc tôi cũng thấy hoang mang”.
Dường như chính sự xung đột giữa những luồng tư tưởng cũ – mới ấy đã khiến văn hóa ứng xử bị lãng quên, cả trong giáo dục lẫn ở gia đình và xã hội.
Ông Nguyễn Ngọc Bích nhận xét, nhiều nam thanh niên bây giờ học hết bậc phổ thông, lên đại học rồi mà vẫn không biết những phép lịch sự cơ bản nhất, trong nhà thì không biết chào hỏi người lớn, ra đường thì không biết cách cư xử với phụ nữ… Thời của ông không như vậy!
Giáo sư Huỳnh Như Phương cho rằng giáo dục văn hóa ứng xử ngày càng ít được chú trọng. Ông nói: “Ngày trước, có những đề thi tú tài môn văn bàn về lẽ sống rất hay, chẳng hạn: “Anh chị nghĩ gì về chí nam nhi và quan niệm hưởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ?”.
Đề thi ngày nay chủ yếu theo khuôn mẫu và ít đặt ra những vấn đề sâu sắc như thế. Giáo dục có vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi nhận thức của con người, nên mọi thay đổi về quan niệm sống, về giá trị nền tảng… cho thế hệ trẻ cần xuất phát từ giáo dục.
Trong chương trình trung học ngày trước đã có môn đạo đức học: học sinh học về lòng bác ái, lương tâm, trách nhiệm…, được rèn tâm thế để chuẩn bị vào đời.
Ông Bùi Văn Nam Sơn: “Văn hóa ứng xử vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một dân tộc”
Thanh niên ngày nay có nhiều kiến thức hiện đại hơn thế hệ trước, nhưng vềứng xử lại không được chuẩn bị kỹ.Lỗi đó không phải của họ, mà thuộc về xã hội.
Ngoài đời, quan niệm sống nào thắng thế thì cách ứng xử phù hợp với quan niệm ấy trở thành chủ đạo.Nếu quan niệm thắng thế là ganh đua, sẵn sàng đạp lên người khác để tiến thân, thì xã hội sẽ có cách hành xử tương ứng”.
Theo ông Nam Sơn, con người có hai cách hành xử chủ đạo, là tư duy chiến lược và tư duy giao tiếp. Lấy lợi ích của mình làm trung tâm, cách hành xửtheo tư duy chiến lược cần có ý đồ và năng lực để thực hiện ý đồ đó. Họ có thể sử dụng mọi mưu mô, thủ đoạn nhằm đạt được mục đích của mình.
Một xã hội có nhiều người theo đuổi tư duy chiến lược sẽ đề cao việc kiếm tiền, kiếm quyền, mua quan bán tước. Khi mà cha – con, vợ – chồng chỉ hành xử theo tư duy chiến lược, mưu cầu lợi ích cá nhân, thì họ sẽ tính toán chuyện phân chia tài sản, khi nào nên ly dị, khi nào không…
Nếu có được tư duy giao tiếp, hẳn họ sẽ hành động vị tha hơn và mối quan hệ gia đình, xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Đó là vì theo đuổi tư duy giao tiếp, người ta sẽ hành động vô vị lợi, dựa trên lòng tin, tình yêu thương con người.
Một xã hội cân bằng vừa khuyến khích tư duy chiến lược, vừa vun bồi tư duy giao tiếp dựa vào sự tin cậy lẫn nhau – những hành động hình thành nên vốn xã hội.
Khi không có được một giá trị nền tảng văn hóa vững chắc, nhiều người sẽ không biết khi nào và nơi nào cần hoặc không cần đến tư duy chiến lược.
Một sự khủng hoảng về văn hóa ứng xử có thể khiến người ta mất phương hướng, không biết nên đi theo giá trị nào, tiềm lực phát triển của đất nước vì vậy sẽ bị triệt tiêu.

Trách nhiệm của những người lãnh đạo, các nhà khoa học, nhà văn hóa là nhìn nhận ra vấn đề để có một sự đồng thuận, đưa ra một hệ thống giá trị cơ bản và hướng mọi người cùng thực hiện.

“Nên nhớ văn hóa ứng xử vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một dân tộc – ông Nam Sơn nhấn mạnh - Chuyện xưa kể rằng có vị vua muốn xâm chiếm nước láng giềng, nên cho người đi tìm hiểu nội tình, người này sau khi về tâu rằng, người dân nước ấy đàng hoàng lắm, con cái hiếu kính cha mẹ, hàng xóm giúp đỡ lẫn nhau, vua tôi trên dưới thuận hòa, chưa thể đánh được đâu”.

Định hình những giá trị căn bản. Văn hóa ứng xử của doanh nhân


Ông Lương Văn Lý: “Có nợ thì phải có trả, tôi cho rằng doanh nhân thành đạt tức là đã có nợ với xã hội”

Cho rằng vấn đề ông Nam Sơn đặt ra rất đáng để suy nghĩ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói: “Muốn định hình những giá trị căn bản cho xã hội, tôi nghĩ cái gốc của vấn đề nằm ở giáo dục, nhưng trách nhiệm này không chỉ thuộc về nhà trường, sách giáo khoa,… mà của cả xã hội.
Cần nhanh chóng đưa ra những giá trị đó và hướng cho lớp trẻ thực hiện.Giới trẻ ngày nay thông minh, nhanh nhạy, dễ dàng hấp thụ những cái đúng nếu được dạy dỗ”.

Ông Ngọc cho rằng thế hệ của mình may mắn khi được thấm nhuần những bài học về luân lý, đạo đức rất nhân bản trong Quốc văn giáo khoa thư.

Những câu chuyện rất đỗi bình dị, dễ đi vào lòng người, thấm đượm qua nhiều thế hệ…Nên chăng chúng ta dạy cho thế hệ trẻ những bài học luân lý như vậy, thay vì dạy những cái quá lớn, chung chung như hiện nay?

Tuy nhiên, trên thực tế, lớp trẻ hằng ngày vẫn phải tiếp nhận những thứ “không giống ai”, theo ông Ngọc:

“Những chương trình truyền hình kiểu “Đùa chút chơi”, theo tôi là lợi bất cập hại. Chẳng hạn, trong chương trình, một anh công nhân mang giày bốt bị đạp một cây đinh lớn xuyên qua giày, lăn lộn, tỏ vẻ đau đớn; người đi đường trong đó có cả người nước ngoài vội xúm lại, giúp anh rút cây đinh ra để rồi phát hiện rằng cây đinh ấy không dính gì tới chân anh ta cả, mới biết mình bị lừa.

Những ai từng bị lừa, sau này gặp người bị nạn có muốn đến cứu giúp nữa không?

Ghê hơn nữa, ở Hà Nội còn có một lớp dạy cách “tán gái”, trong vòng chín mươi ngày người ta sẽ dạy cho học viên cách tán được ba cô gái. Gần đây nhất, cũng tại Hà Nội, một nhóm thanh niên đầu quấn mảnh vải có dòng chữ “Sức mạnh chiến binh”, đứng ở một ngã tư rồi từng người một liên tục hét lớn: Tôi là người thành công…”.

Ông Nam Sơn xin phép “mở ngoặc”, cách hét lên “Tôi là người thành công” đó là một hình thức huấn nhục (dạy cho anh biết nhục) của Nhật Bản từ những năm 1970, nhằm đào tạo một đội ngũ doanh nhân tiếp thị và bán hàng theo kiểu chó sói, xông ra chiếm lĩnh thị trường thế giới. Họ phải tập để có được những đức tính mà người châu Á vốn không có, là mạnh dạn, tàn bạo.

Việc đứng ở ngã tư đường hét lớn chỉ là hình thức thấp nhất; các mức độ cao hơn phải chấp nhận những thử thách cực độ về thể xác, chịu sỉ nhục đến mất nhân phẩm; tiếp nữa là những kỹ năng để có thể hành động bất chấp tất cả, miễn là giành được thị phần.

Người châu Âu khi ấy rất kinh ngạc và nể sợ thế hệ “doanh nhân chó sói” ấy của người Nhật. Nhưng cách làm này lạc hậu quá rồi, giờ đây thế giới đã đào tạo thế hệ doanh nhân thân thiện, lương thiện và đầy tinh thần phục vụ.

Nghĩa là, khi tư duy giao tiếp đang là xu thế toàn cầu, thì một số người đang đi ngược lại, làm những chuyện của nước người đã làm từ hơn bốn mươi năm trước và xem đó là thời thượng.

Có thể thấy rằng trong mỗi gia đình, văn hóa ứng xử vẫn chưa quá đáng ngại, nhưng về tổng thể xã hội thì đúng là có vấn đề. Ông Huỳnh Như Phương bày tỏ:

“Tôi thấy mọi thứ như đang bị tháo tung ra nhưng do không có một hình mẫu, một chuẩn mực nên người ta không biết sắp xếp như thế nào cho hợp lý. Chẳng hạn thế nào là thành công, phải chăng là giật hết phần của người khác về phía mình?

Chưa bao giờ sự cực đoan của chủ nghĩa thực dụng gây tác hại cho xã hội ghê gớm như bây giờ. Tình trạng đó khiến cho người đàng hoàng, tử tế rất khó tồn tại và nguy hại hơn là dẫn đến sự khủng hoảng lòng tin nơi lớp trẻ”.

Ông Đỗ Hồng Ngọc: “Muốn định hình những giá trị căn bản cho xã hội, cái gốc của vấn đề nằm ở giáo dục”
Ông Lương Văn Lý cũng cho rằng xã hội đang ở một khúc quanh nguy hiểm.

Đã có thời kỳ những giá trị cũ, trong đó có văn hóa ứng xử dựa trên tình cảm, nhân nghĩa, nghĩa là những thứ có thật, bị xóa bỏ, thay vào đó là mô thức ứng xử rất phổ biến là đối phó với nhau trong tổ chức mà mình tham gia, nghĩa là một loại văn hóa ứng xử dựa trên những quan hệ bị áp đặt.

Ngoài ra, trong một tổ chức, người ta chỉ dạy cho các thành viên cách ứng xử, giao tiếp trong phạm vi tổ chức mình, cho là đã quá đầy đủ, không cần nghĩ đến mọi khuôn khổ quan hệ, ứng xử khác.

Kết quả là mỗi khi bị đưa vào một môi trường khác ngoài môi trường tổ chức của mình, nhiều người không còn biết cư xử nữa.

Do đó mà không biết nói lời “xin lỗi” khi làm phiền người khác, không biết xếp hàng, không biết ngả mũ khi có đám tang đi ngang qua…

Quan hệ có thật bị thay thế bằng quan hệ không có thật, thang giá trị cũ bị dẹp bỏ, giá trị mới chưa xác định được là cái gì nên người ta đành phải bám vào cái mà người ta cho là cụ thể nhất, dễ sờ mó nhất: đồng tiền.

Nguy hại nhất là khi đồng tiền được tôn vinh, lấn át mọi giá trị khác thì khái niệm “có tiền” và “có văn hóa” không còn song hành.

Mà càng có nhiều tiền, người ta càng dễ trở thành người của công chúng, có tầm ảnh hưởng đối với xã hội, những biểu hiện thiếu văn hóa nếu có của họ sẽ lan truyền rất nhanh, gây ảnh hưởng hết sức tai hại với cộng đồng.

Là một doanh nhân, nên ông Lý đặc biệt trăn trở về cách hành xử của lớp người có tiền và có quyền này.Thế nào là một cách ứng xử có văn hóa của doanh nhân với xã hội?

Theo ông Lý, đó là: “Có nợ thì phải có trả, tôi cho rằng doanh nhân thành đạt tức là đã có nợ với xã hội, vì làm gì có ai tự mình làm giàu được! Đã có nợ thì phải tìm cách trả, mà hoạt động từ thiện của những người giàu nhất thế giới như Bill Gates, Warren Buffet… là những ví dụ sinh động”.

Cuối năm, tĩnh tâm nhìn lại. Mỗi người tự hoàn thiện mình, xã hội sẽ tốt đẹp hơn

Thấy mọi người tỏ vẻ trầm tư, ông Nam Sơn tỏ ý “xoa dịu”, rằng vấn đề đúng là cấp bách, cần phải có sự thay đổi trong văn hóa ứng xử của xã hội, nhưng cũng không nên bi quan. Với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam có một sức sống và sức đề kháng mãnh liệt.Nếu xã hội đồng thuận, mọi chuyện sẽ nhanh chóng thay đổi.

Ông Huỳnh Như Phương: “Quan niệm sống nào thắng thế thì cách ứng xử phù hợp với quan niệm ấy trở thành chủ đạo”

Sau nhận định đầy khích lệ ấy, không khí buổi tọa đàm như thân tình, ấm cúng hơn, mọi người cùng chia sẻ thời khắc cuối năm đang đến gần… Giọng ông Huỳnh Như Phương nhẹ nhàng:

“Vào dịp cuối năm, người ta thường tĩnh tâm nhìn lại. Chợt nhớ bài thơ Cắt tóc ăn tết của Nguyên Sa: “

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta
Cắt cho ta sợi dài
Cắt cho ta sợi ngắn
Cắt cái sợi ăn gian
Cắt cái sợi nói dối
Sợi ăn cắp trên đầu
Sợi vu oan dưới gáy
Sợi bè phái đâm ngang
Sợi ghen tuông đứng dọc…”.

Thử xem năm qua mình có điều gì được, điều gì không được trong ứng xử với mọi người. Có gia đình kia, hai anh em trước đây ở hai chiến tuyến, đã mấy mươi năm rồi mà vẫn thường xảy ra xung đột, ngày giỗ tết mới tề tựu nhưng cứ gặp là cãi nhau.

Mỗi lần như vậy, bà mẹ lại can, thôi, ngày tết bây hãy hòa thuận với nhau để hương hồn cha bây được yên một chút. Tôi nghĩ đó cũng là một ứng xử đẹp”.

Trong khi chờ một giải pháp triệt để, ông Lương Văn Lý đề nghị chúng ta có thể quay về với giá trị của văn hóa dân tộc – một kho tàng phong phú và sâu sắc.

Từ chuyện gắn bó với cộng đồng, làng xóm, đến cách ứng xử với từng người trong gia đình… đều thể hiện trong ca dao tục ngữ của ông cha.

Ngoài ra, trong thời đại hội nhập, rất nên tiếp thu những tinh hoa của văn hóa phương Tây để bổ sung vào những điểm chúng ta còn hạn chế.

Hiện đại hóa suy nghĩ của mình dựa trên cốt lõi là những giá trị văn hóa dân tộc, chúng ta cần tuyên truyền những giá trị văn hóa dân tộc với một cường độ và sự quyết tâm tương tự như trong lĩnh vực kinh doanh, phát triển kinh tế.

Bà Hoàng Anh tâm đắc và chia sẻ: “Trước kia, ở thôn quê mỗi lần ra đường gặp nhau người ta “chào bác, chào anh, chào chị”, thật niềm nở. Nay ở cùng một chung cư, gặp nhau ở cầu thang mỗi ngày nhưng chẳng ai cười nói gì cả.

Có dịp ra nước ngoài, thấy họ dù không biết nhau khi gặp mặt vẫn tươi cười “Hi, Hello…”, bỗng có cảm giác thật ấm áp, tự hỏi sao người ta có thể cư xử văn minh như thế.

Khen người rồi mới nhận ra đó là điều chúng ta đã có và đã mất, ít nhất là ở thành thị, khi việc chào hỏi nhau dần vắng bóng. Tôi mong chúng ta sẽ trở lại với những gì ngày xưa từng làm được, dĩ nhiên là có chọn lọc.

Nếu xưa kia chào nhau xong người ta thường hỏi những chủ đề riêng tư khiến người được hỏi không vui, như tuổi tác, gia đình, con cái… thì nay cũng là niềm nở chào hỏi, nhưng chỉ nên dừng ở mức xã giao”.

Bà Hồ Thị Hoàng Anh: “Tôi mong chúng ta sẽ trở lại với những gì ngày xưa từng làm được…”
Ngoài ra, theo bà Hoàng Anh, sự phối hợp đồng bộ giữa giáo dục gia đình và luật lệ xã hội thời trước cũng rất đáng để chúng ta lưu tâm.

Xưa, con cái bạc đãi cha mẹ, vợ lừa dối chồng… thì ngoài việc bị người đời lên án, kẻ đó còn bị đòn roi, bị làng phạt vạ…

Trong những nét đẹp văn hóa xưa, theo ông Đỗ Hồng Ngọc, việc mặc áo dài là một nét hay cần lưu giữ.

Mặc trên người bộ áo dài, hành xử của các nữ sinh sẽ thay đổi, đi đứng nhẹ nhàng, dịu dàng, khó có chuyện xé áo đánh nhau.

Chưa kể việc làm này còn giúp các cô gái tránh được… béo phì, vì phải ăn uống chừng mực để vòng hai luôn vừa vặn với chiếc áo dài.

Ông Nguyễn Ngọc Bích nói thêm, cần phải có một số giá trị mang tính bắt buộc, ví dụ như đạo hiếu – chúng ta sẽ không cổ xúy việc đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão như các nước phương Tây.

Đặc biệt, giáo dục phải bắt đầu từ gia đình, qua những lời dạy bảo thương yêu của người mẹ, như nhắc con “Bố về kìa, chào bố đi con”, cho đứa con biết đến những lễ nghi cơ bản, để rồi sau đó nhà trường và xã hội sẽ tiếp tục phần việc của mình.

Cuối cùng, để chia sẻ ý “không nên bi quan” của ông Nam Sơn, ông Bích kể chuyện mình:

“Do có chút ít thời gian và khả năng, tôi có mở một lớp dạy tư duy pháp lý cho khoảng một trăm luật sư tập sự; học viên không phải có nghĩa vụ gì với tôi ngoài việc cố gắng học đàng hoàng.

Khẩu hiệu của tôi là cứ làm đi, không mong nhận lại và nó được nhiều anh chị em làm theo. Sự vô vị lợi lại giúp đạt được lợi ích. Trong chúng ta còn nhiều người tốt; trong cương vị của mình, mỗi người cố gắng khơi cái tốt lên thì xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn”.

Thật vậy, dù vẫn có những băn khoăn về sự xuống cấp trong văn hóa ứng xử của xã hội, nhưng giá trị văn hóa của người Việt sẽ không bao giờ mất đi. Mỗi dịp tết đến, các chuyến bay, xe lửa, xe khách… vẫn hoạt động hết công suất để đưa người từ các thành phố lớn về quê ăn tết.

Sự gắn bó gia đình rất mật thiết và từ cái tình trong gia đình ấy sẽ nối qua tình làng nghĩa xóm. Nghĩa là dù đã sống trong thời đại số hóa, chúng ta vẫn giữ được cái gốc sau bao cuộc thăng trầm.

Những tấm lòng vì cộng đồng, những mái ấm, nhà tình thương, những chuyến đi thiện nguyện của các bạn trẻ đến với trẻ em nghèo vùng sâu, vùng xa, chiến dịch mùa hè xanh… luôn được xã hội cổ súy.

Hay như cách ứng xử đầy văn hóa “của cho không bằng cách cho” của những người thực hiện bữa cơm 2.000 đồng dành cho người khó khăn mà DNSGCT từng đề cập.

Tất cả cho thấy cái đẹp, cái thiện vẫn luôn có chỗ đứng trong xã hội, như cành cây đầy sức sống đang căng đầy chồi non mỗi dịp xuân về. Chính những điều này tiếp thêm niềm tin cho mọi người về một cái kết đẹp của hành trình đi tìm nét đẹp văn hóa ứng xử.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

NÉT VĂN HÓA CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ HÀ NỘI XƯA VÀ NAY

NÉT VĂN HÓA CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ HÀ NỘI XƯA VÀ NAY

văn hóa việt nam xưa và nay
                  TRẦN THỊ THU NHUNG
Tóm tắt: Hà Nội đang tiến tới kỷ niệm một ngàn năm tuổi. Hà Nội trong mắt người dân Việt Nam và thế giới là mảnh đất kinh kỳ, nơi đó có những người con gái  thanh lịch tinh tế và đằm thắm, dịu dàng. Văn hóa người phụ nữ Hà Nội đã có sự biến đổi theo thời gian. Bài viết tập trung vào nét văn hóa ăn mặc, phong cách ứng xử trong gia đình và cộng đồng của người phụ nữ Hà Nội xưa và nay. Thông qua sự biến đổi về văn hóa ấy, hơn bao giờ hết, người phụ nữ Hà Nội cần kế thừa nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội xưa và phát huy nét văn hóa mới phù hợp với thời đại hôm nay.



“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
           Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, ai cũng luôn tự hào về cái gốc người Hà Thành của mình. Chẳng phải tự nhiên mà người ta lấy Tràng An để chỉ  địa danh thủ đô Hà Nội thân yêu. Cái tên Tràng An là một địa danh của Trung Quốc xưa kia, gắn với một kinh đô thanh lịch, hào hoa, phồn thịnh. Ở xứ Tràng An-Hà Nội không chỉ có nét đẹp lộng lẫy, hào hoa mà ẩn chứa trong đó cả nét đẹp dịu hiền, man mác, nhẹ nhàng mà sâu lắng. Hai câu thơ trên càng có giá trị và ý nghĩa hơn khi diễn tả về vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội. Nói đến phụ nữ, chúng ta thấy phụ nữ Việt Nam trên mọi miền Tổ quốc đều có nét đẹp riêng. Mỗi vùng quê đều có những người phụ nữ đẹp, họ nổi tiếng với nét đoan trang, đôn hậu, chịu thương, chịu khó mà lịch thiệp. Nhưng nói đến phụ nữ Hà Nội, chúng ta càng thấy rõ điều đó hơn, nó như được nhân lên với nhiều hình ảnh trong quá khứ và hiện tại. Điều này đã ăn sâu vào tiềm thức những người đã đến Hà Nội, đã từng tiếp xúc với người con gái Hà Thành Thăng Long. Nhắc tới vẻ đẹp của người Hà Nội, dường như ngày nay người ta thường hoài cổ về cái đẹp của người con gái Hà Thành xưa kia. Hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam nói chung và người phụ nữ Hà Nội nói riêng xưa kia được đánh giá trên nhiều mặt.
                                               Một thương tóc bỏ đuôi gà
                                   Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
                                               Ba thương má lúm đồng tiền
                                   Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
                                               Năm thương cổ yếm đeo bùa
                                   Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
                                               Bảy thương nết ở khôn ngoan
                                   Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
                                                                                   (Ca dao)
Trong giai đoạn hiện nay, trong bộn bề của xứ kinh kỳ, ngoài những biểu hiện văn hóa lố lăng, thiếu thẩm mỹ, nhiều người con gái Hà Nội vẫn luôn giữ được nét đẹp riêng.
           Trước tiên nói đến văn hóa ăn mặc của người phụ nữ Hà Nội xưa kia. Trong những câu chuyện kể, những tác phẩm văn thơ, những nguồn tư liệu quý, chúng ta bắt gặp những người phụ nữ Hà Nội có cách ăn mặc thật nhẹ nhàng kín đáo. Đơn giản mà lịch thiệp, không lòe loẹt mà ấn tượng. Ngày xưa, phụ nữ Hà Nội ăn mặc rất kín đáo. Nếu áo thường là áo dài vạt, nếu có xẻ tà cũng không để hở làn da bên trong. Mầu vải thường nhã nhặn, chất vải kín đáo mà không kém phần mềm mại. Khi ra đường hay tiếp khách, người phụ nữ thường phải mặc áo dài tay thể hiện sự lịch thiệp, tinh tế. Nếu có mặc váy thì váy thường dài đến gót chân. Nhưng phụ nữ Hà Nội ngày nay lại khác. Vì có điều kiện sống tốt hơn nên họ có điều kiện được thể hiện gu thẩm mỹ của mình với nhiều “cung bậc” và mầu sắc phong phú. Người phụ nữ Hà Nội ngày nay thường mặc những bộ đồ sao cho lột tả được vẻ đẹp của mình. Quần áo thường nhấn đến các đường cong của cơ thể. Mầu sắc thường lấy các gam mầu sặc sỡ để gây ấn tượng. Đi ngoài đường phố Hà Nội, trong cái gió heo may,chúng ta cũng không thể không thấy nao lòng trước một người phụ nữ đẹp hiện đại ăn mặc hợp thời trang. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ lại quá lạm dụng cái “hiện đại” trong cách ăn mặc của mình. Cũng là áo xẻ tà nhưng lại cố tình xẻ sâu, thậm chí có nhiều chiếc quần mặc còn “bố trí” khoét đôi chỗ để thể hiện cá tính. Tưởng là ấn tượng, biết đâu đấy chính là sự lố lăng học đòi thiếu thẩm mỹ, làm mất đi hình ảnh tinh tế của người phụ nữ Hà Nội. Nói riêng đến cái áo dài truyền thống của Việt Nam. Người con gái Hà Nội khi mặc nó sẽ đẹp hơn bất cứ một người phụ nữ nào khác vì ở đó chứa đựng nét duyên thầm khó nói. Trước kia, tà áo dài thường dài đến mắt cá chân, chất vải may thường mềm mại, nhưng kín đáo, ít mầu sắc sặc sỡ. Nó tạo nên nét đẹp dịu hiền, tao nhã của người con gái Hà Thành. Nhưng ngày nay, không chỉ riêng ở Hà Nội, chiếc áo dài đã được cách tân cho phù hợp với thời đại. Nhiều màu sắc, nhiều họa tiết, nhiều chất vải đã được đưa vào để thể hiện nét đẹp của chiếc áo dài. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy chạnh lòng khi bắt gặp nhiều phụ nữ Hà Nội, đặc biệt là nhiều thiếu nữ mặc những chiếc áo dài thiếu tính thẩm mỹ. Nhiều chiếc áo dài “voan kính” trong suốt, có thể nhìn thấu bên trong, hay nhiều chiếc cổ áo dài ba phân được thay vào là cổ hở, cổ trễ, thiếu đi tính trang nhã, kín đáo của người phụ nữ Hà Nội. Ngoài đường phố Hà Nội giờ đã xuất hiện nhiều hơn những quần soóc, áo hai dây. Nhiều phụ nữ thậm chí tiếp khách hay ra đường bằng bộ đồ ngủ hay áo hai dây, đây là sự thể hiện tính cẩu thả thiếu tôn trọng của bản thân đối với người xung quanh. Ông cha ta thường nói “đói cho sạch, rách cho thơm”. Ý nghĩa của câu tục ngữ này khiến chúng ta phải biết trân trọng vẻ đẹp của bản thân ngay cả khi có thiếu thốn. Nhưng ngày nay, con người không phải thiếu cái ăn, cái mặc mà là thiếu hiểu biết. Sự thiếu hiểu biết sẽ làm cho con người nghèo đi rất nhiều.
Mỗi thời đại đều có cách thể hiện vẻ đẹp riêng. Ngày nay gười phụ nữ Hà Nội đã biết cách chăm sóc nước da của mình kỹ hơn bằng việc đi masage, spa, ngay cả cái móng tay cũng được quan tâm kỹ lưỡng. Nếu như trước đây, người phụ nữ Hà Nội luôn được đánh giá cao với bàn tay nhỏ nhắn, thon dài, móng tay cắt ngắn không mầu mè thì ngày nay nhiều cô gái đã thêm phần làm đẹp cho bàn tay mình bằng những hoạ tiết trang trí móng tay. Cũng có những bàn tay trở nên ấn tượng hơn nhờ các hoạ tiết ấy, song cũng có những bàn tay phản cảm bởi mầu sắc lạ lẫm với những hình thù kinh dị. Thậm chí người ta không chỉ vẽ móng tay, móng chân, mà người ta còn “vẽ” trên người. Ngoài đường phố Hà Nội, chúng ta vẫn hay bắt gặp những hình săm tinh quái trên cánh tay hay trên cổ của nhiều cô gái trẻ. Những người Hà Nội xưa còn sống đến nay vẫn cho đấy là cách thể hiện cái đẹp thiếu tính thẩm mỹ. Ngay trong cách trang điểm của người phụ nữ Hà Nội xưa kia cũng khác nay. Chúng ta dễ dàng nhận thấy vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội xưa, hay ngay cả gần đây, trong những thập niên 40 hoặc 50 của thế kỷ hai mươi sao mà nhẹ nhàng và quý phái đến vậy. Họ không trang điểm cầu kỳ, không lòe loẹt phấn son mà họ vẫn đẹp. Đẹp đến nỗi có nhà văn phải nói “Riêng khuôn mặt, phụ nữ Hà Nội xưa nay vẫn hấp dẫn lạ lùng trong mọi con mắt, mọi trái tim từ người thợ đến nhà thơ”. Người phụ nữ Hà Nội xưa trang điểm rất nhẹ nhàng. Có dùng son nhưng rất nhẹ, làn môi chỉ hơi hồng hồng một chút tạo vẻ cuốn hút. Nếu có chải lông mày, các cô, các chị chỉ tô thêm nét cho đậm đôi chút. Thế mà vẻ đẹp thanh tao vẫn toát lên khiến nhiều người không khỏi sao xuyến. Ngày nay, người phụ nữ Hà Nội có nhiều điều kiện làm đẹp mình hơn nhờ sự phong phú về mỹ phẩm, nội có, ngoại có. Bên cạnh nhiều chị em phụ nữ biết cách trang điểm sao cho hợp với khuôn mặt, màu da của mình, còn rất nhiều người mải chạy đua theo mốt trang điểm đến nỗi trang điểm vào mà lại xấu đi, trông thật kệch cỡm. Nhiều người chỉ đi ăn tối với bạn bè thôi mà trang điểm như diễn viên lên sân khấu. Lông mày đang đẹp, nhiều phụ nữ lại tỉa bớt đi, cho gọn, gọn quá nên biến mắt mình thành mắt sếch. Nhiều người quá lạm dụng công cụ làm đẹp mà quên đi vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Có nhiều cô gái đi học cũng kẹp mý giả để cho đôi mắt ấn tượng hơn, bất chấp sự bất tiện không đáng có. Nói về mái tóc của người phụ nữ Hà Nội cũng có nhiều điều để nhớ. Ngày nay, ra đường sao ít gặp những mái tóc dài thướt tha đến vậy. Dẫu biết rằng mỗi thời đại đều sinh ra những gu thẩm mỹ khác nhau nhưng sao vẫn thấy xao xuyến khi nhớ về Hà Nội một thời. Còn gì đẹp hơn khi ta bắt gặp những cô gái Hà Thành đạp những chiếc xe đạp quanh Hồ gươm với tà áo dài và mái tóc dài buông hờ hững. Dù có ăn mặc thế nào, nhưng mái tóc dài của các cô gái cũng sẽ tạo cho đối phương của mình nhiều thiện cảm. Bởi mái tóc không chỉ thể hiện về thẩm mỹ của mình mà còn thể hiện tính giáo dục, tính cách và sức khỏe của người phụ nữ. Ngày xưa, đa số phụ nữ Hà Nội để tóc dài. Họ thường búi tóc hoặc quấn tóc vào những chiếc khăn mỏ quạ trông rất gọn ghẽ và thanh lịch. Biết bao chàng trai đã phải ngơ ngẩn trước những mái tóc thướt tha của người con gái.
                                    “Anh đi khắp bốn phương trời
                            Chẳng đâu lịch sự bằng người ở đây
                                     Gặp em má đỏ hây hây
                             Răng đen nhưng nhức, tóc mây rườm rà”
                                                                                   (Ca dao)
Còn ngày nay, các kiểu tóc ra đời, không chỉ cắt ngắn mà thậm chí còn quá nhắn đến nỗi người ta tưởng đấy không phải là phái nữ. Nhiều cô gái tưởng đấy là sự thể hiện cá tính riêng, nhưng đâu phải. Không chỉ tóc nâu, còn cả tóc vàng, tóc xanh, tóc ánh kim...thật lạ. Vấn đề ở đây không phải mầu tóc, kiểu tóc mà vấn đề là liệu nó có phù hợp với khuôn mặt mình hay không. Đã không ít các cô gái đã tự làm mình già đi và xấu hơn bởi những kiểu tóc lạ. Người phụ nữ Hà Nội xưa ít trang điểm mà sao vẻ đẹp của họ vẫn không lẫn vào đâu được. Phải chăng ngay cả trong chính khuôn mặt họ đã chứa đựng vẻ đẹp mà ít ở đâu có được.
Phong cách đi đứng, giao tiếp trong văn hóa ứng xử của người phụ nữ Hà Nội nay cũng đã khác xưa rất nhiều. Trước đây dấu ấn về người con gái Tràng An chính là mẫu người thanh tao,đoan trang, nhã nhặn. Nét thanh tao ấy thể hiện ngay trong cách đi đứng, ứng xử giao tiếp thường ngày. Người phụ nữ Hà Thành xưa kia đi đứng nhẹ nhàng, ăn nói rất nhỏ nhẹ, ý tứ. Ngày xưa phụ nữ Hà Nội thường đi đôi guốc mộc,mà guốc mộc thường phát ra âm thanh lớn. So với các loại giầy dép phong phú như hiện nay, chắc chắn tiếng động dễ nhận ra hơn rất nhiều do âm thanh của gỗ. Nhưng sao chúng ta vẫn cảm nhận thấy bước chân của người Hà Nội xưa nhẹ nhàng vậy. Sự nhẹ nhàng tinh tế ấy có được là do bước chân khoan thai, ý tứ của người con gái. Trước đây con gái Hà Nội luôn có bước đi khoan thai, từ tốn, nhanh nhẹn nhưng không vội vàng. Thật khó có thể tìm thấy người con gái Hà Nội nào ra đường với vẻ hấp tấp vội vàng. Dù vội, họ cũng luôn tỏ ra điềm tĩnh nhã nhặn và lịch thiệp. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, người ta luôn cảm thấy thời gian như trôi nhanh hơn, nên nhìn ai cũng thấy vội vã. Cũng do điều kiện xã hội chi phối nhiều nên ngày nay, người phụ nữ phải bươn chải, thích nghi với môi trường xung quanh nên không vội vàng sao được. Đường phố Hà Nội ngày nay đâu còn như trước, yên bình, lặng lẽ với những gian nhà cổ, những chiếc xe đạp cổ, hay cùng lắm là chiếc xích lô ba bánh. Có lẽ chính khung cảnh yên bình ấy tạo nên sự khoan thai trong người con gái Hà Thành. Hà Nội bây giờ đông đúc, không chỉ xe đạp, xe máy, còn cả ô tô. Dân số lại tăng lên rất nhiều, tránh sao khỏi việc tắc đường, kẹt xe. Thế nên sáng đi làm, chiều về với gia đình, người phụ nữ luôn phải đối mặt với sự chen chúc, đường chật người đông. Nhiều người còn quên mình là phụ nữ khi cục cằn văng bậy với người bên cạnh khi bị lấn đường. Thậm chí có lức các bậc cha mẹ cũng thấy thật buồn lòng khi chứng kiến nhiều vụ ẩu đả của các cô nữ sinh bên ngoài cổng trường, ngay giữa lòng thủ đô. Nhưng thật lạ là cũng chính trong khung cảnh đông đúc,vội vã ấy vẫn có nhiều người phụ nữ giữ được nét lịch thiệp của người Hà Thành. Họ từ tốn, nhã nhặn nhường đường cho người khác. Đi trên phố, họ thong thả bước chân nhẹ nhàng dạo bước. Vào hội trường, đi xem phim, họ luôn giữ ý tứ đi lại nhẹ nhàng, chỉ sợ bước chân mình làm ảnh hưởng đến người xung quanh. Thật đáng quý biết mấy. Ngày xưa, ra chỗ đông người, ít khi thấy người phụ nữ nào xô bồ, thô lỗ. Họ thường ngượng ngùng khi tiếp xúc với người lạ, và lại càng thẹn thùng khi tiếp xúc với người khác giới. Người ở nơi khác đến khi tiếp xúc với con gái Hà Nội, người ta đều ấn tượng về giọng nói thỏ thẻ, dễ nghe và cuốn hút không lẫn đi đâu được. Dường như, trong các gia đình truyền thống xưa kia, các bà mẹ thường giáo dục con gái của mình nhiều hơn về ứng xử, giao tiếp. Chính vì vậy nét văn hóa ấy cứ được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một câu đối đáp của họ cũng có từ thưa gửi, dạ vâng. Khi nghe người trên nói, các cô gái thường cúi đầu, lắng nghe rất kính trọng. Nếu có đi với chồng, ở nơi công cộng, các cô gái cũng không dám thể hiện tình cảm của mình. Một cái cầm tay cũng thấy ngại ngùng. Thật ý tứ biết mấy. Nhưng ngày nay, cái tự do của xã hội hiện đại đã làm dần mất đi sự thanh tao, đẹp đẽ ấy. Nhiều phụ nữ mải mê thể hiện tình cảm của mình mà quên rằng bên cạnh mình còn bao người. Trong quán xá, ngoài vỉa hè, chúng ta vẫn hay bắt gặp các cô gái trẻ tự nhiên ngồi rung chân, cười nói hồn nhiên, nói to đến nỗi mọi người xung quanh phải ngoái lại không hiểu chuyện gì. Nhiều cô gái đi xe ngoài đường còn giăng hàng ba, hàng bốn, nhiều lúc còn phá lên cười ngạo nghễ khi trêu được một chàng trai thư sinh. Họ có biết rằng chính hành động kém ý thức ấy đã làm xấu đi hình ảnh người phụ nữ Hà Nội mà bao đời nay đã trở thành dấu ấn. Họ quên mất rằng cách nói năng ứng xử chính là thể hiện đậm nét nhất truyền thống văn hoá gia đình. Làm sao thấy đáng yêu khi trên khuôn mặt đẹp đẽ, cái miệng xinh xinh lại chất chứa bao lời nói thô tục. Những cô gái ngày nay có biết rằng dù ngày nay hay xưa kia, cái duyên vẫn là thước đo nhân cách của người con gái.
      Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng
Thương ai chúm chím cười duyên một mình.
(Ca dao)
           Trong đời sống gia đình, người phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn hạnh phúc. Người phụ nữ Hà Nội nổi tiếng với sự đằm thắm, dịu dàng trong ứng xử gia đình. Ngày xưa, người phụ nữ thường tần tảo, chăm chút đến đời sống gia đình nhiều hơn, họ cần mẫn với việc chăm sóc dạy dỗ con cái nhiều hơn, đặc biệt là giáo dục nhân cách cho con cái. Người phụ nữ trong gia đình luôn là ngọn lửa giữ ấm ngôi nhà của mình. Họ rất ý tứ trong mỗi hành vi ứng xử. Bữa cơm trong gia đình, họ thường ngồi đầu nồi để xới cơm, tiếp thức ăn cho bố mẹ, chồng con. Họ luôn là người dậy sớm nhất và cũng là người đi ngủ sau cùng. Sáng sớm, người phụ nữ bao giờ cũng dậy sớm quét dọn nhà cửa, đun ấm nước sẵn để chờ mọi người dậy có nước ấm pha trà, rửa mặt. Buổi tối nếu mọi người chưa đi ngủ, chắc chắn họ sẽ vẫn thức. Nhiều khi cũng không có việc gì, song đấy chính là nét đẹp của người phụ nữ xưa khi họ luôn giữ ý tứ trong mọi lúc mọi nơi. Người phụ nữ trước đây thường nêu cao tấm gương cho con cái học tập. Họ luôn tự tay chăm sóc giáo dục con cái, từ việc học hành đến cách đối nhân xử thế. Họ rất giỏi việc tề gia nội trợ, nữ công gia chánh. Họ luôn thích thú và tự hào với việc chính tay mình làm ra những chiếc áo cho chồng con, chính tay mình nấu những bữa cơm cho gia đình ăn. Họ uốn nắn con trong từng cử chỉ, lời nói, nhất là con gái. Phải chăng chính vì vậy, những người con gái nào ngày nay còn được thừa hưởng lối giáo dục ấy thì luôn giữ được nét đẹp của người Hà Nội xưa. Kể cả dù có đi đâu hay giữa đám đông, họ vẫn toát lên nét đẹp rất riêng, không lẫn đi đâu được. Thời đại đã thay đổi, người phụ nữ ngày nay đã có nhiều cơ hội thể hiện vai trò của mình trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Họ bộn bề với công việc xã hội nhiều hơn, giữ nhiều vị trí quan trọng trong công ty hay tổ chức nào đó. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải suy nghĩ khi có nhiều phụ nữ mải công việc xã hội, mải kiếm tiền mà quên đi vai trò chính của mình trong gia đình. Nhiều phụ nữ Hà Nội đã bỏ lại công việc gia đình cho người giúp việc. Ban ngày họ mải công việc cơ quan, những cuộc tiếp xúc bạn bè, đối tác. Tối về họ chỉ muốn nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi. Thế nên bữa cơm gia đình lúc nào cũng chỉ muốn nhanh gọn, ăn cơm nhà hàng càng tốt, đỡ phải mất công chuẩn bị. Nếu có ăn ở gia đình, các bà mẹ thường nghĩ đến món ăn nào chế biến nhanh nhất để tiết kiệm thời gian. Thế nên, các món ăn sẵn mới được nhiều gia đình sử dụng đến vậy. Thời gian ít nên người phụ nữ có rất ít thời gian để dạy dỗ con cái. Họ tập trung chủ yếu vào việc đưa con đến trường và phó mặc sự dạy dỗ cho nhà trường. Còn các kỹ năng sống, vấn đề đạo đức, ứng xử của con cái, các bà mẹ ngày càng ít chú ý hơn. Vậy thì Hà Nội làm sao có được nhiều hơn hình ảnh người phụ nữ đẹp toàn diện như xưa. Thật may là bên cạnh những người bộn bề với công việc xã hội, vẫn còn rất nhiều phụ nữ Hà Nội ngoài việc khẳng định vai trò của mình trong lĩnh vực kinh tế, biết lo toan chăm sóc gia đình. Vẫn còn rất nhiều người yêu Hà Nội, yêu nét văn hoá Hà Nội xưa. Họ dạy con cái biết phát huy những nét đẹp của người con gái Hà Thành và cũng biết làm mới mình với hơi thở của thời đại. Họ dạy dỗ con cái theo cách mà cha mẹ họ đã giáo dục mình. Nhưng họ cũng cho con cái sự tự do phát huy cái riêng, cái tự do trong cuộc sống. Chính vì vậy Hà Nội vẫn không thiếu đi những người con gái Hà Nội hiện đại song vẫn thanh lịch, tao nhã. Có một người con gái Hà Nội hiện đại đã từng nói lên cảm xúc khi thấy mình vẫn có được những nét đẹp truyền thống của người Hà Nội xưa: tôi đã biết được mình không phải là người dại như người ta đôi khi nói, xin được làm một bông hoa để nếu người lạ dừng lại một phút ngắm nhìn, sẽ thấy một cảm giác ngọt ngào, thanh thản để quên đi một chút những nhọc nhằn. Vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội thế đấy, vừa hiện đại lại cổ điển, rất tinh tế mà dịu dàng.
Hà Nội sẽ càng đẹp hơn khi có nhiều người phụ nữ Hà Nội thành đạt trong xã hội. Trên nhiều lĩnh vực họ đang góp sức xây dựng đất nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Ngày nay họ đã biết làm đẹp mình hơn, làm mới mình hơn và biết phát huy cái lịch thiệp, hào hoa của con người Hà Nội vào việc thể hiện mình. Song không phải cái mới nào cũng tốt, cũng hay, cái quá khứ nào cũng lạc hậu. Người phụ nữ Hà Nội đang trong quá trình kế thừa những nét đẹp văn hóa của con người Thăng Long-Hà Nội ngàn năm tuổi, và phát huy những nét đẹp hiện đại của thời đại mới để làm nên nét đẹp của người Hà Thành- người phụ nữ Thủ đô thanh lịch văn minh hôm nay và mãi mãi mai sau.

CÙNG SUY NGẪM:Về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

CÙNG SUY NGẪM:Về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
văn hóa việt nam trong thời kỳ hội nhập


Xin chữ và cho chữ đầu năm là một nét đẹp văn hóa được duy trì từ lâu tại Lễ hội đình, đền, chùa Cầu Muối, thuộc xã Tân Thành (Phú Bình). Ảnh Hồng Tâm.
Xin chữ và cho chữ đầu năm là một nét đẹp văn hóa được duy trì từ lâu tại Lễ hội đình, đền, chùa Cầu Muối, thuộc xã Tân Thành (Phú Bình). Ảnh Hồng Tâm.
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia, dân tộc đều có điều kiện và cơ hội để phát triển, song cũng đứng trước không ít nguy cơ, thách thức mới; đặc biệt là việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và phát huy các giá trị văn hóa, trong môi trường mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng ta về "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước" vừa được ban hành trên cơ sở kế thừa những thành tựu của 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa trong hội nhập quốc tế và đời sống xã hội.


Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI lần này nêu rõ đòi hỏi trước tiên là phải xây dựng chiến lược con người, vì con người là trung tâm phát triển văn hóa. Con người tham gia xây dựng và làm phong phú thêm nền văn hóa. Và chính văn hóa lại là môi trường loại bỏ "phần con", dung dưỡng "chất người" trong từng cá nhân và toàn xã hội. Con người Việt Nam sẽ là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam và họ chính là người thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc, trực tiếp tham gia giữ gìn bản sắc riêng có của dân tộc mình qua mỗi thế hệ. Xây dựng và phát triển văn hóa trong Nghị quyết được nhấn mạnh vào xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế; chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Nghị quyết đã tiếp tục khẳng định quan điểm: "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học", một nền văn hóa phong phú đã và đang tiếp tục đóng góp cho nhân loại không ít di sản văn hóa; nổi bật là 8 di sản văn hóa phi vật thể độc đáo đã được UNESCO công nhận, đặc biệt là tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại thi hào Nguyễn Du là những danh nhân văn hóa thế giới.
Giá trị con người Việt Nam được định vị từ cội nguồn dân tộc mà thang giá trị cao nhất là lòng yêu nước. Lòng yêu nước đó được gắn chặt với lòng tự tôn, tự cường dân tộc; gắn kết cá nhân với gia đình, làng xã, Tổ quốc; gắn kết với các đức tính nhân ái, bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; bằng đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động vì sự phồn vinh của đất nước. Có thể khẳng định, nội lực của nền văn hóa chính là con người. "Cây văn hóa" có rễ bám sâu vào cuộc sống, vào lịch sử truyền thống dựng nước và giữ nước thì "gốc" mới bền, "cành lá" mới sum suê và "hoa" mới đậu thành "trái" ngọt. Quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc cũng chính là quá trình thực hiện chiến lược con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Đây là khâu trọng yếu trong việc xây dựng nền tảng tinh thần đã được Hội nghị Trung ương 9 khóa XI chỉ rõ.
Văn hóa luôn nằm trong quá trình hiện đại hóa và trở thành sức sống mãnh liệt của cả dân tộc. Văn hóa dân tộc giao lưu với văn hóa nhân loại, tiếp thu những cái "chân - thiện - mỹ" của các nền văn hóa trên thế giới để bồi đắp cho văn hóa dân tộc mình. Giữ gìn bản sắc cũng phải trên cơ sở vừa kế thừa, vừa không ngừng tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại để làm sâu sắc thêm những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần củng cố và làm phong phú thêm nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Và "tinh hoa" ở đây cũng phải hiểu trên cơ sở kế thừa chứ không phải là bất biến. Song, chúng ta cũng phải hết sức thận trọng, bản lĩnh và tỉnh táo bởi trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập, việc giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các quốc gia, khu vực rất dễ bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của công nghệ thông tin. Internet - thành tựu của nhân loại được ví như con dao hai lưỡi; cùng với những ưu việt của Internet, các sản phẩm phi văn hóa cũng dễ dàng thâm nhập và đe dọa việc bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI với hành trang văn hóa và văn minh đa dạng, phong phú. Thiết nghĩ, trong quá trình hội nhập hiện nay, những người làm công tác đối ngoại văn hóa, nhất là những người chịu trách nhiệm về giao lưu, hội nhập văn hóa cần phải hiểu sâu sắc hơn, thấm nhuần hơn tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ của nền văn hóa nước nhà. Để hội nhập kinh tế, đội ngũ doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những hoạt động kinh tế mà họ cần trở thành những "doanh nhân văn hóa". Đây là lực lượng xung kích trên mặt trận kinh tế, đóng góp đáng kể trong công tác ngoại giao nhân dân và đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nhiều nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Do vậy, việc trang bị cho họ hiểu biết đầy đủ kiến thức về văn hóa nước nhà là hết sức quan trọng. Đây cũng là một trong những nội dung cấp thiết cần quan tâm khi triển khai thực hiện Nghị quyết.
Để có thể hòa mình vào quá trình hội nhập, mỗi chúng ta hãy tự giác rèn luyện, trau dồi văn hóa dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa thời đại, nhanh nhạy trong nhận thức, chuyển biến kịp thời về tư duy, nhất là tư duy văn hóa, thiết thực góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đã đề ra./.
Đ.T